Đức Cha Jean Sion

TIỂU SỬ ĐỨC CHA JEAN SION

 Cha Jean Sion sinh ngày 10.06.1890 tại làng Estaires, miền bắc nước Pháp. Cậu là người con thứ bảy trong một gia đình gồm chín anh chị em. Thân phụ là Paul Emile Sion và thân mẫu là Pauline Thérèse Tancré, thuộc gia đình đạo đức ở Estaires.

Năm lên bảy tuổi thì cậu mồ côi cha. Thời thơ ấu và niên thiếu, cậu Jean được học  tại trường Trung-tiểu-học của giáo xứ, do các nữ tu và các cha giáo sư trong hạt. Ngay từ thời học sinh, cậu đã có dự định sẽ dấn thân vào đời sống linh mục khi đến tuổi trưởng thành. Năm cuối bậc trung học, cậu Jean tỏ cho mẹ ý định xin vào Hội Thừa Sai Pari. Bà đau lòng vì viễn ảnh của một sự chia ly không hẹn ngày tái ngộ, nhưng bà không ngăn cản, nên cậu đã được thâu nhận vào Đại chủng viện ở Bièvres ngày 11.09.1907.

Trong biến cố chiến tranh thế giới lần I , thầy Jean Sion phải đi quân dịch mất bảy năm. Rời quân ngũ, Thầy vẫn kiên quyết theo đuổi ơn gọi đến cùng. 20.03.1920, thầy thụ phong linh mục lúc 30 tuổi.

Ngày 04.08.1920 cha đặt chân lên đất Quy Nhơn khởi đầu cho một sứ mệnh mới. Bắt đầu cuộc đời truyền giáo, Cha Jean Sion học tiếng Việt tại giáo họ Gò Dài, thuộc địa sở Gò Thị (Bình Định). Sau bốn tháng miệt mài học tập, cha chọn tên Việt là Khâm.

Ngày 19.3.1925, Cha Jean Sion được bổ nhiệm làm chánh xứ Nhà Đá kiêm bề trên Hội Thầy Giảng địa phận Quy Nhơn. Với kinh nghiệm trong nhiệm vụ bề trên Hội Thầy Giảng cùng với nhiệt tâm tông đồ ấp ủ từ lâu, cha Sion nhận định rằng các thầy giảng không thể đáp ứng nhu cầu tông đồ ngày càng lớn của các xứ truyền giáo, vì ơn gọi của các thầy không được ràng buộc một cách bền bỉ. Trong những năm giữ chức vụ này, cha tích cực nghiên cứu việc lập một dòng tu có lời khấn để có thể đáp ứng công việc tông đồ truyền giáo một các hữu hiệu hơn. Dòng mới lấy tên là : “Dòng Anh Em Hèn Mọn Thánh Giuse”. Kết quả ấy đạt được khi Toà Thánh ký giấy chuẩn nhận ngày 10.04.1931. Sau đó ngày 14.07.1831, Đức giám mục địa phận, ĐC Augustin Tardieu, đã ký sắc lệnh thành lập chính thức. Dòng  AEHMTG (PFSJ: Petít Frères de Saint Joseph)  đã được khai sinh về phương diện pháp lý.

Ngày 01.07.1941, ngài rời hội dòng, nhận chức giám mục giáo phận Kontum. Để đẩy mạnh công tác truyền giáo, Đức Cha cũng nghĩ đến việc lập một Dòng nữ dân tộc. Sau khi nghiên cứu kỹ càng, tháng 11/1943, ngài cho ra đời Dòng Aûnh vảy Phép lạ (Congrégation de la Médaille Miraculeuse) cho các thiếu nữ người Bahnar. Dòng đã được Toà Thánh chuẩn nhận năm 1947.

Trong những năm 1946 – 1950, tình hình đất nước bất ổn trầm trọng. Nhiều cuộc chiến liên miên xảy ra ở Kontum càng làm cho thân xác ngài chóng hao mòn. 1950 Ngài trở về Pháp để tham dự Tổng tu nghị thừa sai Pari. Lúc này, tình trạng sức khoẻ của đức cha càng tồi tệ. Vì là con người hay suy tư, vì nỗi ray rứt không được về lại giáo phận, ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ khiến cho bệnh ngày càng gia tăng. Đến ngày 20.11.1950 thì ngài bị liệt vì tai biến mạch não. Ngày 19.08.1951, Thiên Chúa đã gọi ngài về để nhận phần thưởng của người tôi tớ trung thành giữa tuổi đời 61.